Khái niệm về chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện các mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô như là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

Nghiệp vụ thị trường mở: NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở khi nó mua hoặc bán trái phiếu chính phủ cho công chúng. Để làm tăng cung ứng tiền tệ, NHNN chỉ thị mua trái phiếu trên thị trường trái phiếu quốc gia. Lượng tiền mà NHNN bỏ ra mua trái phiếu làm tăng lượng đô la trong lưu thông. Một phần trong số đô la mới này được giữ dưới dạng tiền mặt, phần còn lại được gửi vào các ngân hàng. Mỗi đô la mới được giữ dưới dạng tiền mặt làm tăng cung ứng tiền tệ đúng 1 đô la. Mỗi đô la được gửi vào ngân hàng làm tăng cung ứng tiền tệ nhiều hơn 1 đô la vì nó làm tăng dự trữ và lượng tiền mà hệ thống ngân hàng có thể tạo ra.

Ngược lại, để cắt giảm cung ứng tiền tệ, NHNN bán trái phiếu chính phủ cho công chúng trên thị trường trái phiếu quốc gia. Công chúng trả cho các trái phiếu bằng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng mà họ đang nắm giữ và vì vậy lượng tiền trong lưu thông giảm xuống. Ngoài ra, khi công chúng rút tiền ra khỏi các ngân hàng, các ngân hàng nhận thấy lượng tiền dự trữ của họ giảm. Để đáp lại sự suy giảm dự trữ này, các ngân hàng giảm khối lượng cho vay và quá trình tạo tiền sẽ diễn ra theo chiều hướng ngược lại.

Hiện tại, Nghiêp vụ thị trường (OMO) chủ yếu NHNN sử dụng để điều chỉnh lượng tiền từ NHTM, đảm bảo thanh khoản của NHTM.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: NHNN cũng có thể tác động tới cung ứng tiền tệ thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức mức dự trữ tối thiểu mà các ngân hàng phải nắm giữ so với tiền gửi. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng tiền mà hệ thống ngân hàng có thể tạo ra từ mỗi đô la dự trữ.

Sự gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hàm ý các ngân hàng phải dự trữ nhiều hơn, do đó cho vay ít hơn từ mỗi đô la mà nó nhận được dưới dạng tiền gửi; kết quả là, nó làm tăng tỷ lệ dự trữ, làm giảm số nhân tiền và cung ứng tiền tệ. Ngược lại, biện pháp cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm tăng số nhân tiền và cung ứng tiền tệ. NHNN rất ít khi thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc bởi vì sự thay đổi thường xuyên có thể làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Ví dụ, khi NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, một số ngân hàng nhận thấy họ bị thiếu hụt dự trữ, mặc dù họ không thấy có sự biến động nào trong tiền gửi. Trong trường hợp như vậy, họ phải từ chối cho vay cho đến khi tạo ra được đủ mức dự trữ bắt buộc mới.

c. Lãi suất tái chiết khấu/tái cấp vốn: Công cụ thứ ba trong các công cụ tiền tệ của NHTW là lãi suất chiết khấu, tức lãi suất mà NHTW áp dụng khi cho các ngân hàng thương mại vay tiền Khi không đủ dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại phải vay tiền của NHTW. Tình huống này có thể xảy ra bởi vì ngân hàng đã cho vay quá nhiều hoặc bởi vì có quá nhiều các khoản tiền được rút ra. Khi NHTW cho một ngân hàng vay tiền, hệ thống ngân hàng sẽ có nhiều dự trữ hơn và họ có thể tạo ra nhiều tiền hơn. NHTW có thể thay đổi cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi lãi suất chiết khấu. Lãi suất chiết khấu càng cao, các ngân hàng càng ngại vay tiền của NHTW để bù đắp dự trữ. Điều này làm cho cung tiền giảm đi. Và ngược lại với việc giảm lãi suất chiết khấu => làm cho lượng tiền tăng.

Sự thay đổi của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tác động như thế nào đến chỉ số chứng khoán và chỉ số ngành?

Tác động đến thị trường chứng khoán

Đầu năm 2008, khi Ngân hàng Nhà nước công bố siết chặt chính sách tiền tệ với bất động sản, chứng khoán, cả 2 thị trường này lập tức gặp "sóng thần" khiến hàng loạt nhà đầu tư đứng trên bờ vực phá sản khi không kịp rút lui. Thị trường bất động sản đang ở đỉnh cơn sốt giá đã lao dốc không phanh, chỉ trong một thời gian ngắn mất trung bình 60% giá trị, đặc biệt, gần như mất thanh khoản hoàn toàn. 

Tương tự, thị trường chứng khoán cũng rơi vào cơn sụt giảm kéo dài và lập đáy vào đầu năm 2009 khi VN-Index rơi xuống mức 234 điểm. Những tin đồn chứng khoán sập, ý tưởng đóng cửa thị trường một vài phiên để "chặn lũ" cũng đã được đưa ra. Không ai nghĩ thị trường có thể "bật" dậy nổi sau cú ngã quá mạnh kéo dài cả năm. Nhưng ngay sau đó, khi Ngân hàng Nhà nước chính thức hạ lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7% cùng lúc Chính phủ tung ra gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% thì chứng khoán bật mạnh trở  lại. Hàng loạt cổ phiếu "ngủ đông" thức giấc với mức tăng gấp 3- 4 lần giá trị chỉ trong một thời gian ngắn. Tâm lý hứng khởi khiến thời kỳ tăng trưởng này kéo dài liên tiếp 2 quý (quý 2 và 3/2009). Hàng loạt nhà đầu tư mới lao vào, các tài khoản cũ được "nạp" tiền trở lại. 

Say sưa trên chiến thắng, nhà đầu tư hồ hởi lao vào thị trường với niềm tin mãnh liệt rằng chứng khoán sẽ còn tiếp tục tăng trưởng khi hàng loạt doanh nghiệp niêm yết công bố mức "siêu lợi nhuận" đạt được bất chấp những khó khăn của thời kỳ suy thoái.

Bất ngờ, cuối tháng 11 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng, chứng khoán mất trên 30% giá trị. Các nhà đầu tư lao vào xả hàng, bán gấp bán rút vì sợ "lịch sử lặp lại", chứng khoán có thể sẽ lập đáy như thời điểm đầu năm.

Tác động đến từng doanh nghiệp

Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản trung bình lên tới trên 25%. Với các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản, tỷ lệ nợ còn lớn hơn rất nhiều, đến 70% - 80%. Vì vậy, khi chính sách tín dụng thay đổi ngay lập tức tác động mạnh đến kinh doanh và lợi nhuận của các doanh nghiệp này. Nếu chính sách nới lỏng, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có thể vay được vốn, có thể thực hiện dự án, mở rộng quy mô sản xuất. Từ đó có doanh thu, có lợi nhuận, có thị phần. Ngược lại, chính sách siết chặt thì doanh nghiệp lại như bị bó chân, bó tay, mất cơ hội làm ăn và khó phát triển.

TÓM LẠI

Lãi suất nhìn chung bị tác động bởi nguồn cung và nguồn cầu về vốn. Khi cung vượt quá cầu thì lãi suất giảm và ngược lại khi cầu vượt cung thì lãi suất lại tăng. Nguồn cung và nguồn cầu về vốn phản ánh trong hoạt động huy động và hoạt động tín dụng của ngân hàng của hệ thống ngân hàng. Hoạt động tín dụng thể hiện nhu cầu vay tiền của ngân hàng, trong khi đó hoạt động huy động thể hiện nguồn cung của tiền, chính sách tiền tệ là một phần của nguồn cung về nguồn vốn, chính sách tiền tệ là yếu tố quan trọng quyết định sự tăng hay giảm của lãi suất.



Lượt xem
1 Tổng lượt xem
1 Lượt xem của thành viên
0 Lượt xem công cộng
Hành động
0 Thích
0 Không thích
0 Bình luận
Chia sẻ trên mạng xã hội
Chia sẻ liên kết
Chia sẻ qua mail

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ webpage theo email.